Vài suy nghĩ về cách thức bảo tồn và phát triển mở rộng Ví, Giặm

                                                              Nh.S Ngô Thục Khuyên

  1. QUÁ TRÌNH SÂN KHẤU HOÁ DÂN CA VÍ, GIẶM

Dân ca Ví, Giặm là hồn thiêng cốt lõi của ngôn ngữ, văn hóa nhân dân xứ Nghệ, được kiến tạo ra bởi một phong cách Nghệ. Đấy là những con người chất phác, thật thà trên vùng đất  phong cảnh trữ tình nhưng đầy gian khổ để tạo ra khí chất, cốt cách người Nghệ. Với ngôn ngữ mang âm vực nặng nhưng lại đầy ân tình đã hình thành nên bản chất của dân ca xứ Nghệ. Nỗi nhớ thương gia đình, tình yêu đôi lứa và tình yêu quê hương đất nước bao trùm lên tất cả bằng chính câu hát ví, giặm bởi nó là lời ăn tiếng nói của người dân lao động, thể hiện tâm tư tình cảm của người xứ Nghệ.

Theo cơ chế và quy luật tự nhiên từ phát triển của đời sống mà dân ca xứ Nghệ bị mai một dần. Những làn điệu Hò, Ví, Giặm hát trên sông, hát đối nhau trên ruộng đồng, khi đi hái củi, lên non… dần thưa thớt và đã chuyển sang một hình thức khác như hát hội, hát đám… Nếu chỉ là hát không đối đáp thì sẽ dần đơn điệu, không thể chuyển tải đủ nên các nhà nghiên cứu, các nhạc sỹ, các nhà viết kịch bắt đầu nâng cấp lên một bước. Những năm ở thập niên 60, của thế kỷ 20, một số vùng miền trong cả nước đã hình thành sân khấu kịch hát dân ca như: Bình Trị Thiên, Liên khu 5…trong đó có Nghệ An. Nhiều hình thức bảo tồn và phát huy dân ca các vùng miền như: nói chuyện về sự ra đời của dân ca, dạy hát dân ca, dàn dựng và biểu diễn các chương trình dân ca nhạc cổ…Và hình thức mới nhất là Sân khấu hóa dân ca. Ở tại thời điểm đó thì chỉ còn phảng phất  hát hò với nhau trong làng, xã, trên sông nước, phục vụ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Khi nghiên cứu đổi mới, các nhạc sỹ, các nhà viết kịch ngoài giữ nguyên các làn điệu cổ và giữ trên lòng bản đồng thời lấy những cấu trúc của chèo, bẻ làn, nắn điệu, dùng âm vực Nghệ, phương ngữ cho ra các làn điệu thích ứng với những tình huống kịch để bây giờ chúng ta có đủ các hệ thống làn điệu phát triển dùng rất có hiệu quả trên sân khấu.

Không gian trình diễn cổ truyền của dân ca Ví Giặm tuy không còn, song vẫn còn đó những làn điệu Ví Giặm, kho tàng lời ca Ví Giặm và cách thức sinh hoạt Ví Giặm giải trí. Phần còn lại này tuy không toàn vẹn ý nghĩa “văn hóa nghệ thuật cổ truyền” nhưng nó vẫn còn “nguyên vẹnnội dung âm nhạc Ví-Giặm cổ truyền. Chức năng mới cho dân ca Ví-Giặm từ nghệ thuật thực hành xã hội sang nghệ thuật giải trí cộng đồng. Sự chuyển đổi chức năng một cách tự nhiên và hợp lí này cũng đã cung cấp cho chúng ta một bài học quý giá để giải quyết bài toán khó về bảo tồn nghệ thuật cổ truyền trong sự biến động mãnh liệt của tổ chức xã hội hiện đại.

Hai loại hình nghệ thuật “khác biệt” này, sinh ra hai giới thực hành nghệ thuật có tên gọi khác nhau. Một bên được gọi là nghệ sỹ, một bên được gọi là nghệ nhân.

Trong trường kì lịch sử phát triển và tồn tại, dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh đã trải qua ba lần chuyển đổi lớn. Xét về bản chất:

– Lần chuyển đổi thứ nhất chỉ chuyển đổi cách thức và địa điểm trình diễn, còn âm nhạc và lời ca Ví Giặm cổ truyền vẫn được bảo toàn, (chưa ai xác định chính xác về thời gian). Không gian Ví Giặm giải trí được chuyển đổi sớm nhất có lẽ là do các nghệ nhân hát rong. Những người yêu Ví Giặm cũng đã đặt ra muôn vàn lời ca có nội dung khác nhau, cách sắp xếp làn điệu khác nhau để biểu diễn trong cộng đồng

– Lần chuyển đổi thứ hai (khoảng giữa thế kỉ XX) đã biến dân ca Ví Giặm thành phương tiện thể hiện tình huống, tâm trạng nhân vật kịch của Sân khấu Ví Giặm. Do đó âm nhạc và lời ca Ví Giặm dân gian được thay thế bằng lời ca và âm nhạc phục vụ câu chuyện kịch, nhân vật kịch. Như vậy, rõ ràng dân ca Ví Gịăm không những được bảo tồn nguyên bản mà còn có những bước phát triển về chất, đó là sự chuyển hoá từ hình thức ca hát dân gian, đến ca nhạc chuyên nghiệp, rồi ca kịch sân khấu. Biến chuyển mạnh nhất là những năm 1967 cho đến sau này những là: Không phải tôi, Khi ban đội đi vắng, và riêng Cô gái sông Lam…  chuyển thể từ chèo. Tất cả đấy đã được khẳng định, và người ta sáng tác ra rất nhiều làn điệu không chỉ từ nguyên bản dân ca Ví, Giặm như Giận thương, Hát khuyên… mà còn các làn điệu chủ yếu cải biên từ chèo và các thể loại khác sang như: Con cóc, Lập lờ, Tứ hoa… Hơn 80 làn điệu sáng tạo ra đấy là một bước nhảy để cho dân ca Ví, Giặm có một đời sống mới.

– Và hiện nay chúng ta đang hình thành lần chuyển đổi thứ 3, là sự tác động qua lại, tương hỗ ở hai giới thực hành nghệ thuật này sau mười năm từ khi Ví Giặm được UNESCO ghi danh (2014). Những làn điệu trên Sân khấu Kịch hát dân ca đã được người dân ứng dụng đưa vào các tiểu phẩm để phục vụ ở các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, các cuộc liên hoan văn nghệ ở làng, xã, huyện, thị như Hát Khuyên, Tứ hoa, Con cóc… Như vậy dù muốn hay không thì Ví, Giặm cũng tiếp tục đi theo con đường của nó để thích ứng, phù hợp với xã hội đương đại, phát triển theo xu hướng của cuộc sống. Phong trào hát dân ca được nâng cao đặc biệt từ khi được Unesco ghi danh như là nguồn động viên cho nhân dân xứ Nghệ. Sôi nổi không chỉ trong nhân dân mà các cấp chính quyền đã vào cuộc mạnh mẽ. Hàng năm đã tổ chức các hội thao, hội diễn, liên hoan cấp phường, cấp xã, cấp thôn, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ…, nhà nhà hát dân ca, người người hát dân ca. Đâu có người Nghệ thì tức khắc ở đó phải có dân ca Ví, Giặm, phát triển rực rỡ trong 10 năm qua, đã để lại những thành quả lớn. Các nhạc sỹ viết rất nhiều những ca khúc, hợp xướng… phát triển từ Ví, Giặm tạo ra một bước tiến mạnh mẽ trong cộng đồng trên cả nước và ở nước ngoài.

  1. LÀM MỚI DÂN CA VÍ GIẶM TRÊN CÁC LÀN ĐIỆU CỔ

Vấn đề sáng tạo (sáng tác mới dựa theo phương pháp dân gian) cho đúng mạch của dân ca là khó, nhưng các nhà nghiên cứu, sưu tầm trước đây đã làm được. Sáng tạo mang hơi thở cuộc sống mới nhưng đã giữ được hồn cốt .

  • Chất liệu phải đậm đà âm hưởng dân ca Ví Giặm
  • Cấu trúc theo khúc thức dân gian
  • Biểu đạt được tâm trạng hoặc tính cách nhân vật
  • Ca từ dựa theo các thể thơ dân tộc.

Các tác giả trước đây đã làm rất tốt việc này như các nhà nghiên cứu, nhạc sỹ Thanh Lưu, Lê Hàm, Vi Phong, Văn Thế… đặc biệt nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong với làn hát “Giận mà thương”, ‘Ví đò đưa sông Lam” đã mãi mãi đi vào tiềm thức của người dân xứ Nghệ và cả nước. Không những thế, làn hát “Giận mà thương” đã được trình diễn khắp nơi trên thế giới với các nhạc sỹ nước ngoài soạn lại cho nhiều loại nhạc cụ khác nhau.

Trên cơ sở giữ nguyên bản làn điệu cổ và tiếp tục phát huy, phát triển tiếp cho đến hôm nay. Từ trước đến nay Dân ca Ví, Giặm cũng chỉ thử nghiệm các làn điệu, đối đáp và chuyển thể kịch hát chứ chưa hề có kịch bản diễn xướng nào cả. Đỉnh cao của hát đối là “Thử lòng chung thủy” của NSND Tiến Dũng. Để phục hồi lại các trò diễn xướng, Nghệ sĩ nhân dân Hồng Lựu đã thử nghiệm năm 2007. Lấy cảm hứng và tiêu đề từ bức tranh của cố họa sĩ Tiêu Cao Sơn. Kịch bản diễn xướng đầu tiên “Đêm trăng phường vải” ra đời. Chị đã dùng cơ bản 3 chặng, 9 bước hát đối đáp từ Ví phường vải Nam Đàn và Ví phường vải Trường Lưu để làm rường cột chính rồi thêm Ví và Giặm vào cho phong phú để biểu diễn được trên sân khấu. Lúc đầu dư luận, báo chí không đồng tình nhưng dần dần đã chấp nhận nó và cho đến bây giờ những những diễn xướng của NSND An Ninh như: Trai phường chai, gái phường vải, Sông Lam chiều nắng đỏ, Phường nón, Phường cấy…  hay như Khúc ca đồng ruộng, Trai Đông gái Phượng… của tác giả không chuyên NNƯT Cao Xuân Thưởng đã làm  phong phú và giàu có thêm cho dân ca Ví, Giặm. Đặc biệt trong chương trình: “Kỷ niệm 10 năm dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được Unesco ghi danh” tới đây. NSND Hồng Lựu tiếp tục mạnh dạn đưa một thể nghiệm dân ca nguyên gốc trên nền nhạc Hiphop trong Ví giặm hồn quê tỏa sáng để hướng tới lớp trẻ có thể tiếp cận dễ hơn, không những là lớp trẻ của xứ Nghệ mà còn kỳ vọng trên cả toàn thế giới.

Ngoại tỉnh thì có Nghệ sỹ Lê Thanh Phong cũng đang thực hành rất tốt Dân ca Nghệ Tĩnh bằng cách làm mới các làn hát dân ca kết hợp với những ca khúc quen thuộc bằng thể loại Tân cổ giao duyên – Tứ hoa, Ví trên nền nhạc có tiết tấu… Không những Dân ca Nghệ Tĩnh mà các loại hình dân ca khác như Chèo, Cải lương… Nghệ sỹ Lê Thanh Phong đã được khán thính giả đón nhận nồng nhiệt. Hay như nghệ sỹ A Páo (Ngô Sỹ Ngọc) ở Hà Giang không những làm đẹp cho Cao nguyên Đá bằng những làn điệu dân ca vùng Tây Bắc mà còn lan tỏa Ví Giặm bằng những ca khúc mà chính xác hơn là cách làm mới Dân ca như “Hà Tĩnh quê ơi” “Tìm em câu ví sông Lam”…cập nhật lên YouTube thường xuyên.

Từ trước đến nay, công tác tổ chức các liên hoan, hội thi, hội diễn, đưa dân ca vào trường học và dạy đàn hát dân ca trên Đài phát thanh truyền hình… đã thường xuyên liên tục nhưng cơ bản vẫn là lớp người có tuổi thực hành và thưởng thức. Sự tiếp nối giữa các thế hệ thông qua sự chuyển tiếp liền mạch, không ngắt quãng thì mới có được những thế hệ người thực hành trẻ, khán giả tiếp tục với các loại hình văn hóa truyền thống và đặc biệt cố gắng đổi mới, bứt phá mạnh để đưa Dân ca Ví Giặm vào thế hệ trẻ một cách tự nhiên.

          – UBND tỉnh Nghệ An đang thực hiện Đề án “Bảo vệ và Phát huy giá trị di sản Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025” là mở các lớp truyền dạy Dân ca Ví Giặm cho các em học sinh có năng khiếu ở các Huyện vào mỗi dịp hè.

– Trong mấy năm gần đây, Trung tâm Nghệ Thuật Truyền thống Nghệ An đã mở một sân chơi “Thầy gà, thầy bày – Không gian diễn xướng Dân ca Ví Giặm” tại Quảng trường Hồ Chí Minh, phố đi bộ Thành phố Vinh vào cuối tuần đã thu hút rất đông khán thính giả tham dự cũng như các nhân sỹ trên cả nước gửi các câu đối đáp về cho chương trình. Đây là một cách khôi phục lại không gian diễn xướng của cha ông ta xưa để thích ứng với môi trường vui chơi giải trí của chúng ta hiện nay. Bên cạnh đó, hàng năm đều mở các lớp tập huấn cho các nghệ nhân trong tỉnh và lần đầu tiên Trung tâm tổ chức lớp: Tập huấn sáng tác soạn lời dân ca Nghệ Tĩnh, tháng 10/2024 đã rất thành công. Hy vọng đây sẽ là nguồn lực khai thác trong nhân dân hiệu quả nhất cho dân ca Ví, Giặm trong tương lai.

– Các Câu lạc bộ dân ca Ví Giặm trong Thành phố Vinh luôn tổ chức hát Dân ca Ví Giặm trên các phố đi bộ cuối tuần. Như vậy Dân ca Ví Giặm đã xuống phố, hòa cùng với thị hiếu thưởng thức văn hóa đường phố của người dân thành phố và các khách du lịch về đây.

– Với cách làm này, các nhạc sỹ đương thời đã vận dụng rất nhiều từ Ví Giặm như Xa khơi – Nguyễn Tài Tuệ; Tiếng hò trên đất Nghệ An – Tân Huyền; Người con gái sông La – Doãn Nho; Trông cây lại nhớ đến Người – Đỗ Nhuận; Khúc tâm tình của người Hà Tĩnh – Nguyễn Văn Tý; Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh – Trần Hoàn; Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác – An Thuyên… Mới đây là ca khúc “Về xứ Nghệ cùng em” của nhạc sỹ Xuân Hòa như là một ca khúc cải biên từ Ví Giặm nhưng bất cứ ai là người Nghệ cũng sẽ thuộc ít nhiều. Nhạc sỹ Doãn Nho với ca khúc Chiêc khăn Piêu”, (giai điệu, lời ca từ bài dân ca “Tăng A Tim” của dân tộc Xá nay là Khơ Mú). Những ca khúc của Nhạc sỹ Nguyễn Cường đại đa số lấy giai điệu từ dân ca Tây nguyên Êđê (với hai làn điệu chủ yếu K’ưt và Arei): “H’Zen lên rẫy”, “Ơi M’Đrắk”, “Xôn xang mênh mang cao nguyên Đắk Lắk” “Thênh thênh oh ơi”, “Ly cà phê Ban Mê “Còn thương nhau thì về Buôn Ma Thuột”… ; Dân ca J’rai để có “Đôi mắt Pleiku”, “Tình ca Đắk Bla”; Dân ca Bâhnar “Và ta đã thấy mặt trời rạo rực trên cao nguyên”…. Những ca khúc này nó không thoát ra khỏi dị bản, có những câu hát đã trở thành lời nói “cửa miệng” của người Tây Nguyên như “Ban Mê lộng gió, da nâu mắt sáng, vóc dáng hiền hòa, Có cái nắng, có cái gió…

Tất cả đó đã minh chứng rằng những ca khúc này sẽ lại trở thành dân ca của dân tộc họ, sự sáng tạo và phát triển dân ca lại trở thành dân ca để nó tiếp tục sẽ là dị bản của chính họ ở thế kỷ XXII, XXIII…

III.  KẾT LUẬN

Từ những phân tích trên, có thể đi đến các kết luận dưới đây:

  1. Sự biến đổi dân ca nói chung, dân ca Ví, Giặm nói riêng, trong xã hội đương đại là tất yếu. Tự thân dân ca Ví Giặm đã có sức sống mạnh mẽ. Sự biến đổi linh hoạt của dân ca Ví, Giặm là phương cách để dân ca Ví, Giặm sống bền bỉ với thời gian.
  2. Cách tốt nhất để giữ gìn, bảo tồn nghệ thuật dân gian là bảo tồn nó trong đời sống nhân dân, bằng sức sáng tạo của nhân dân.
  3. Cách bảo tồn Ví Giặm hiệu quả nhất là không ngừng phát triển dựa trên cột sống kế thừa. ‘Kế thừa’ là sự ‘di truyền’. Biến đổi mà kế thừa được tinh hoa sẽ làm cho Ví Giặm không chỉ tồn tại cùng thời đại mà còn phát triển rực rỡ hơn.
  4. Biến đổi linh hoạt không chỉ về nội dung, mà còn ở môi trường thể hiện, không gian thể hiện, phương thức thể hiện, hình thức thể hiện.
  5. Văn hóa truyền thống được tích tụ qua thời gian và không gian luôn là một giá trị mở, bao gồm cái bất biến và cái khả biến. Cái bất biến phải được trao truyền. Cái khả biến để đáp ứng với thời đại. Kết hợp cái bất biến với cái khả biến luôn tạo nên một giá trị mở, là căn nguyên sự tồn tại, là động lực của sự phát triển mở rộng và tiếp nối để lan xa.

Trong thời gian qua rất nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ, các văn nghệ sỹ vào cuộc làm cho Ví, Giặm trưởng thành để khẳng định không phải chỉ chính người Nghệ mà kể cả những người yêu dân ca đều thấy rằng chúng ta rất xứng đáng với một Di sản phi vật thể mà Unesco đã ghi danh. Sự phong phú và đa dạng của các loại hình dân ca nói chung, Ví, Giặm nói riêng, là kết quả tài năng sáng tạo của người dân Việt từ đời này qua đời khác để cho thế giới nhận diện một folklore trên toàn cầu. Sự thăng trầm của chúng phụ thuộc vào nhiều nhân tố mà vai trò của những người hoạt động trong lĩnh vực ca nhạc, nghệ thuật, văn hoá là những viên gạch móng trên con đường phát triển của Ví, Giặm để bay xa.                                                                          

               TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Ninh Viết Giao (1993), Hát Phường Vải, Xí nghiệp in Bộ Thương Mại, Hà Nội.
  2. Ninh Viết Giao (1996), Kho tàng ca dao xứ Nghệ, Hội VHDG Nghệ An, Nghệ An.
  3. Đào Việt Hưng (1998), Hát ví Nghệ Tĩnh, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.
  4. Lê Hàm, Hoàng Thọ, Thanh Lưu (2000), Âm nhạc dân gian xứ Nghệ, Hội VHDG Nghệ An. Nghệ An.
  5. Thanh Lưu (2019), Dân ca xứ Nghệ và sân khấu hóa dân ca, Nxb Nghệ An, Nghệ An.
  6. Nhiều tác giả (1991), Từ dân ca đến kịch hát, Nxb Nghệ An, Nghệ An.
  7. Nhiều tác giả Vùng văn hóa Ví Giặm Nghệ Tĩnh, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
  8. Vi Phong (1991), Dân ca Nghệ Tĩnh, Sở Văn hóa – Thông tin Nghệ Tĩnh, Nghệ An.
  9. Thông tin Nghệ Tĩnh, Nxb Âm nhạc 1991: Dân ca Nghệ Tĩnh, Sở Văn hóa –
  10. Sở VHTT& DL Nghệ An chủ biên, Nxb Nghệ An, 2014: Tuyển tập dân ca xứ Nghệ,
  11. Đặng Hoành Loan: Những bước chuyển đổi trong Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh
  12. Phạm Hồng Quý: Giữ gìn, bảo hộ, kế thừa dân ca phải đi theo xu hướng trào ưu và quy luật.
  13. Nguyễn Xuân Đức Vấn đề bảo tồn dân ca Nghẹ Tĩnh.
  14. Đặng Thanh Lưu: Tổng quan về Dân ca xứ Nghệ. Phương cách Bảo tồn và phát huy những giá trị Di sản ấy.
Rate this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Hotline
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon
chat-active-icon