Ths. Nguyễn Hồng Hà
PTP.NCST. Trung tâm Nghệ thuật truyển thống Nghệ An
- VÀI NÉT VỀ VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH VÀ CÂU LẠC BỘ DÂN CA TRONG CỘNG ĐỒNG
Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là “thổ sản”, là “hồn cốt” của người xứ Nghệ, được cộng đồng người Việt ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo ra trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt đời sống. Nó mang giá trị văn hóa và nhân văn sâu sắc, góp phần quan trọng tạo nên diện mạo, bản sắc của người dân xứ Nghệ. Chính vì nó xuất phát trong lao động và sinh hoạt cộng đồng cho nên sức sống, sức lan truyền trong cộng đồng rất mạnh mẽ, nó xuất hiện ở mọi lúc mọi nơi, mọi hoàn cảnh, không kể thời gian, không gian, không kể ngày tháng và gắn liền với phương ngữ của người dân xứ Nghệ. Bất cứ một người Nghệ nào hễ thuộc một vài câu lục bát là đã có thể hát được dân ca Ví, Giặm, bởi phương ngữ và người Nghệ, chúng gắn bó với nhau như hình với bóng không thể tách rời. Một đứa trẻ xứ Nghệ chỉ mới lên ba đang bi bô tập nói nhưng đã biết nói tiếng mô, tê, răng, rứa rồi. Bởi vậy, nói người Nghệ nói mà như hát, hát mà như nói e cũng là lẽ tất nhiên. Dân ca xứ Nghệ khi được cất lên thành lời ca nó như những cuộc trò chuyện, những cuộc tâm tình, đối thoại với nhau. Nhờ đặc thù gắn với phương ngữ mà sức sống và sự lan tỏa của Ví, Giặm rất rộng lớn trong cộng đồng Nghệ Tĩnh. Nó có mặt ở hầu hết trên khắp mọi vùng quê xứ Nghệ, từ người già đến trẻ nhỏ ai ai cũng biết hát dân ca. Người già thì hát ru con ru cháu, trẻ nhỏ thì sử dụng dân ca trong các trò chơi dân gian, thanh thiếu niên, công nhân viên chức thì hát trong sinh hoạt đoàn thể, hội họp,…. Và bởi dân ca Ví, Giặm ra đời từ lao động, gắn liền với lao động, nghề nghiệp, nên người dân khi lao động cũng là lúc họ cất lên tiếng hát để vừa quên đi mệt nhọc, vừa trao đổi tâm tình với nhau. Vì thế, ở xứ Nghệ đã hình thành nên những nhóm sinh hoạt Ví, Giặm gắn với nghề nghiệp, với đặc trưng của từng loại hình lao động như nghề dệt vải (có ví phường vải), nghề đan lát (có ví phường đan), nghề làm nón lá (có ví phường nón) hay nghề cày cấy (có ví phường cấy), nghề hái củi (có ví trèo non), nghề chài lưới trên sông nước (có ví đò đưa),v.v…
Chẳng ai biết được chính xác hát Ví, Giặm có từ bao giờ, đến nay đã bao nhiêu tuổi. Chỉ biết được rằng nó ra đời từ trong lao động, gắn với lao động và sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi mới xuất hiện, dân ca Ví, Giặm còn thô sơ mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe. Mỗi người dân Nghệ họ hát với những tâm sự khác nhau nhưng người Nghệ cứ lao động là ca hát. Họ hát trong lúc làm việc và điều đó đã trở thành thói quen với họ từ bao đời nay. Trước đây việc tồn tại phổ biến của các làng nghề hay lao động nghề nghiệp đã tạo cho sinh hoạt Ví, Giặm được diễn ra thường xuyên hơn. Ngày thì họ hát đối đáp với nhau lúc cày cấy trên đồng ruộng, đi hái củi trên núi trên đồi, hay đánh bắt tôm cá dưới sông,… tối về, họ lại tụ họp để vừa dệt vải kéo sợi vừa hát đối đáp dao duyên với nhau giữa các tốp nam và tốp nữ của làng này làng nọ như là những cuộc hẹn hò, trao gửi tâm tình với nhau, hay lúc rảnh rỗi nông nhàn, lúc mưa bão họ không ra đồng làm việc được thì họ lại tụ họp với nhau ở các phường đan, phường nón,… để vừa làm vừa hát. Chính nhờ những cuộc đi hát này mà nhiều cặp trai gái đã thành đôi thành lứa, nên duyên vợ chồng. Ngày nay khi đời sống công nghiệp hiện đại lên ngôi, việc tồn tại của các làng nghề đã ít đi hoặc không còn nữa thì sinh hoạt Ví, Giặm trong cộng đồng người dân Nghệ Tĩnh không còn tồn tại như trước mà đã được chuyển sang một hình thức khác. Giờ đây, họ không còn vừa lao động vừa ca hát, vừa dệt vải vừa hát xe duyên. Từ chỗ hát phường hát hội, thì nay, thay vào đó là các đội văn nghệ, các câu lạc bộ dân ca ở các phường, xã, thôn, xóm.
Qua thời gian, ở xứ Nghệ đã hình thành 4 hình thức sinh hoạt CLB dân ca: CLB gia đình, dòng họ; CLB nghề nghiệp; CLB tự nguyện và CLB do chính quyền thành lập. Và để duy trì bền vững thì câu lạc bộ dân ca phải hội tụ được các tính chất sau: tính tự túc (tự bỏ ra các chi phí về vật chất cho quá trình sinh hoạt); tính tự tác (tự sáng tác, tự biên tự diễn); tính tự nguyện (tự nguyện tham gia do đam mê, yêu thích) và xã hội hóa trong hoạt động (có khả năng tìm được nguồn thu nhập từ các hoạt động của câu lạc bộ mình).

- CÂU LẠC BỘ DÂN CA – NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG SAU 10 NĂM
Tiền thân của CLB dân ca trong cộng đồng vốn là các phường hát, hội hát xưa. Qua thời gian, với sự ra đi của các làng nghề, các phường hát không còn. Việc thành lập CLB chính là hình thức đưa sinh hoạt dân ca trở về với nguồn gốc ban đầu của nó và tục hát truyền thống của cha ông. Lâu nay hình thức sinh hoạt này chủ yếu là truyền miệng qua các thế hệ nghệ nhân trong cộng đồng, được gọi là sinh hoạt cộng đồng. Hình thức này mang tính tự nhiên như vốn có nhưng tính cộng đồng lại không cao và tính chuyên nghiệp chưa có.
Từ khi Trung tâm Bảo tồn Phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ được thành lập năm 2010 (nay là Trung tâm nghệ thuật truyền thống Nghệ An) và đặc biệt từ khi Dân ca Ví, Giặm được tổ chức UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2014, thì công tác bảo tồn phát huy Ví, Giặm càng được đẩy mạnh trên địa bàn 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Hàng loạt các hoạt động về dân ca Ví, Giặm được diễn ra. Bên cạnh việc đưa dân ca vào trường học, dạy hát dân ca trên sóng phát thanh truyền hình, tổ chức các hội thi hội diễn, liên hoan dân ca hàng năm, lồng ghép dân ca trong các hoạt động văn nghệ quần chúng, đẩy mạnh công tác nghiên cứu sưu tầm (biên soạn các đầu sách, in ấn các băng đĩa, tổ chức các hội thảo khoa học về dân ca,…), xây dựng các vở diễn ngày càng có tính chuyên nghiệp hơn phục vụ công tác biểu diễn thúc đẩy quá trình sân khấu hóa dân ca, …thì việc xây dựng mạng lưới câu lạc bộ dân ca trên địa bàn dân cư ở các địa phương là việc làm hết sức thiết thực. Tất cả các hoạt động đó nhằm đưa dân ca về với cộng đồng, sống lại trong dân gian. Nhờ thế, hoạt động câu lạc bộ dân ca đã được nâng lên một bước trở thành hoạt động có tính chuyên nghiệp hơn và không ngừng được nhân rộng trên khắp các địa bàn dân cư xứ Nghệ. Hoạt động dân ca trở nên bài bản, có tổ chức và chọn lọc hơn, đã có người đứng ra quản lý và có sự vào cuộc của các cấp chính quyền địa phương. Và không ai khác, nghệ nhân là những người đóng vai trò nòng cốt trong việc phát huy, phát triển và nhân rộng mạng lưới dân ca trong cộng đồng dân cư.
Và đến hôm nay, sinh hoạt dân ca đã là hoạt động diễn ra sôi nổi, rộng khắp và hết sức tự nhiên của người Nghệ. Dân ca đã thực sự đi vào đời sống hàng ngày của người dân xứ Nghệ. Từ ma chay, cưới hỏi, lễ tết, đình đền, hội họp, các hoạt động xã hội,… đều có mặt của dân ca. Nó như một bộ phận không thể tách rời trong cuộc sống của con người. Ban đầu từ 25 Câu lạc bộ dân ca ở 22 phường, xã, thị trấn/14 huyện, thành, thị với 500 nghệ nhân toàn tỉnh (năm 2010 – năm 2011). Đến tháng 7 năm 2012 (thời điểm Ví, Giặm làm Hồ sơ Di sản Quốc gia), toàn tỉnh xây dựng và mở rộng được 51 CLB dân ca ở 44 phường, xã, thị trấn/ 14 huyện, thành, thị với 1000 nghệ nhân. Trong 01 năm tiếp theo (tức 2013), toàn tỉnh xây dựng và mở rộng được 76 CLB dân ca ở 72 làng, xóm, phường, xã, thị trấn/ 14 huyện, thành, thị với 1600 nghệ nhân. Và đến 2014, toàn tỉnh xây dựng và mở rộng được 92 CLB dân ca ở 95 phường, xã, thị trấn/ 16 huyện, thành, thị (trừ các huyện miền núi: Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tương Dương, Kì Sơn) với gần 2000 nghệ nhân. Và đến nay (2024), sau 10 năm nhìn lại chặng đường phát triển (từ thời điểm dân ca Ví, Giặm được tổ chức UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại), toàn tỉnh xây dựng và mở rộng được hơn 140 CLB dân ca/21 huyện, thành phố, thị xã, trong đó có 01 nghệ nhân nhân dân, 48 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú, 43 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Dân gian Việt Nam, hơn 1000 nghệ nhân nắm vững các làn điệu, có khả năng thực hành và truyền dạy dân ca, tập trung và có truyền thống lâu đời như các huyện Thanh Chương, Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, TP. Vinh, Hưng Nguyên, Nam Đàn,….Tiêu biểu như các nghệ nhân: Nguyễn Thị Đồng, Nguyễn Trọng Đổng, Lê Thị Vinh, Võ Thị Vân (Thanh Chương), Nguyễn Thị Am (Quỳnh Lưu), Trần Thị Như (Yên Thành), Trần Mạnh Cường (Đô Lương), Lê Tiến Huy (TP.Vinh),… hình thành được một đội ngũ tác giả sáng tác, soạn lời, dàn dựng các tiết mục, chương trình dân ca Ví Giặm, tiêu biểu như: Phan Thế Phiệt, Trần Văn Minh (Yên Thành), Võ Thị Vân, Võ Thị Minh Nguyệt (Thanh Chương), Nguyễn Yết Niêm, Vũ Thị Quế (Quỳnh Lưu), Trần Văn Hồng (TX.Thái Hòa), Nguyễn Văn Mai (Nghĩa Đàn), Cao Xuân Thưởng, Võ Minh Phúc, Nguyễn Thị Lê (Diễn Châu), Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Mạnh Cường (Đô Lương), Trịnh Hưng Minh, Lê Thị Bích Thủy (Nam Đàn), Nguyễn Trọng Tâm, Nguyên Khoa, Nguyễn Thành Ngân (Hưng Nguyên), Lê Tiến Huy, Nguyễn Tiến Thanh (TP.Vinh),… Hệ thống các Câu lạc bộ (CLB) đã tạo nên được một mạng lưới dân ca rộng khắp từ tỉnh đến các cơ sở địa phương. Đây là một trong những “cái nôi” lưu giữ hồn dân ca Ví, Giặm Xứ Nghệ. Dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của Trung tâm Nghệ thuật truyền thống Nghệ An, nhìn chung, các CLB dân ca sinh hoạt nhiệt tình, say mê, tự nguyện, tham gia biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, các hoạt động văn hóa cộng đồng dân cư của địa phương, tham gia các kỳ Liên hoan, Hội diễn dân ca, Lễ hội Làng Sen của tỉnh, tham gia truyền dạy cho các cháu học sinh trong nhà trường vào dịp nghỉ hè, tham gia không gian diễn xướng ứng tác thầy Gà thầy Bày tại Quảng trường HCM,… và nhiều hoạt động khác. Gần đây, các CLB còn tham gia phục vụ các lễ tổng kết, các chuyên đề ngành nghề, các lễ hội, tang ma, đám cưới, như CLB Hồng Sơn huyện Quỳnh Lưu, CLB Ngọc Sơn huyện Thanh Chương, CLB Bồi Sơn huyện Đô Lương, CLB Diễn Lợi huyện Diễn Châu, CLB Đồng Thành và CLB Phúc Thành huyện Yên Thành, CLB Hưng Tân huyện Hưng Nguyên, CLB Hà Huy Tập TP.Vinh,… Nhiều nghệ nhân đã tuổi cao, sức yếu nhưng vẫn tham gia sinh hoạt CLB, nhiệt tình truyền dạy dân ca cho các thế hệ trẻ. Các CLB tuy sinh hoạt ở những môi trường khác nhau nhưng hầu hết đều có điểm chung là niềm đam mê, yêu thích dân ca và tinh thần tự nguyện sinh hoạt. Mặc dù hoạt động chưa có tính chuyên sâu, đội ngũ tác giả chưa nhiều, kinh phí còn khó khăn, hạn hẹp, các CLB đều tự bỏ ra nhưng khi có chủ trương, phong trào gì của địa phương thì họ đều hưởng ứng kịp thời. Đây là lực lượng nòng cốt để nắm giữ, trao truyền di sản trong nhân dân, và lực lượng này ngày càng lớn mạnh cả về số lượng cũng như chất lượng.
Từ thực tế như trên ta thấy rằng, mạng lưới câu lạc bộ dân ca ngày càng được mở rộng và nâng cao cả về chất và lượng (ban đầu với 25 CLB (2010), đến 92 CLB (2014), sau 10 năm kể từ khi được tổ chức UNESCO ghi danh nay đã tăng lên 140 CLB); Số lượng thành viên tham gia sinh hoạt CLB dân ca Ví, Giặm ngày càng nhiều hơn (từ 500 thành viên, nay đã tăng lên hơn 3000 thành viên); Độ tuổi và thành phần tham gia sinh hoạt CLB cũng ngày càng đa dạng, phong phú hơn (nếu như thời gian đầu chủ yếu là các cụ cao tuổi, trung tuổi, một số cán bộ đã nghỉ hưu, thì nay đã xuất hiện ở các CLB nhiều độ tuổi và tầng lớp khác nhau, đó là: thanh thiếu niên, trẻ nhỏ, nhiều công chức, viên chức, học sinh, sinh viên, bộ đội,…).
Bên cạnh những thành quả đạt được thì hoạt động câu lạc bộ dân ca cũng còn nhiều bất cập. Số lượng thành viên hiện nay tuy ngày càng nhiều, phong phú, đa dạng ở mọi lứa tuổi và thuộc nhiều thành phần khác nhau nhưng nhìn chung chưa chuyên tâm và hăng hái tham gia hát Ví, Giặm và sinh hoạt CLB như trước đây. Chất lượng hoạt động CLB chưa đồng đều ở các vùng miền và phần nhiều còn sinh hoạt mang tính mùa vụ. Các làn điệu từ gốc đến cải biên hầu như các nghệ nhân chưa nắm vững. Vì thế, khi tham gia các kỳ Liên hoan, Hội diễn họ chủ yếu tập trung vào các bài vốn đã quen thuộc như Thập ân phụ mẫu, phụ tử tình thâm, Lời mẹ hát,… Kinh phí hoạt động thiếu thốn và chủ yếu với tinh thần tự nguyện nên hoạt động của các CLB còn nhiều khó khăn. Phục trang, dàn nhạc dân tộc của các CLB đều đang rất nghèo nàn, thô sơ, không đồng bộ, điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của các CLB cũng như các kì Liên hoan Hội diễn dân ca. Số người biết truyền dạy một cách bài bản và có kỹ thuật không còn nhiều, truyền dạy chủ yếu bằng phương thức truyền miệng và dưới hình thức sinh hoạt CLB. Các nghệ nhân tuổi ngày càng cao, sức yếu, sự truyền dạy hạn chế. Số nghệ nhân lưu giữ các làn điệu gốc hầu hết đã qua đời, số còn lại cũng đã già yếu, khả năng trao truyền ngày càng khó khăn. Bên cạnh đó lớp trẻ lại ít người mặn mà, hào hứng học. Sự quan tâm của Chính phủ, Nhà nước, cộng đồng đến đời sống vật chất và tinh thần của các nghệ nhân còn quá ít ỏi. Mặc dù Nghị quyết 29 về hỗ trợ chế độ cho CLB và nghệ nhân phong tặng đã ban hành và áp dụng nhưng chưa thường xuyên và chưa được áp dụng ở phạm vi rộng, thực hiện còn cứng nhắc. Kinh phí đầu tư của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đến lĩnh vực bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá phi vật thể nói chung và dân ca Ví, Giặm nói riêng hết sức hạn chế. Chưa có cơ chế, chính sách riêng dành cho lĩnh vực này.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Để đưa hoạt động Câu lạc bộ dân ca Ví, Giặm ngày càng lớn mạnh, xứng đáng là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại thì cần có những giải pháp như sau:
– Giữ vững các phương pháp truyền khẩu: những người biết nhiều truyền cho những người biết ít, thế hệ trước truyền cho thế hệ sau;
– Tổ chức các lớp dạy học đông người ở phạm vi rộng và thường xuyên;
– Đưa dân ca vào các Hội nghị, trong sinh hoạt cộng đồng, qua báo, đài và các phương tiện thông tin đại chúng;
– Đẩy mạnh công tác phát triển mạng lưới câu lạc bộ dân ca Ví, Giặm cả về lượng và chất xuống từng làng xã, thôn, xóm, vào các ngành nghề, cơ quan đơn vị, từng vùng dân cư;
– Duy trì tổ chức các kỳ Liên hoan, Hội diễn, thi hát dân ca Ví, Giặm hàng năm và mở ra ở các cấp, các ngành, các đoàn thể và quân đội;
– Tổ chức tập huấn cho các câu lạc bộ dân ca hàng năm, chú trọng cho đội ngũ tác giả sáng tác, soạn lời dân ca Ví, Giặm;
– Gắn kết Ví, Giặm vào các chương trình văn nghệ phục vụ Lễ, Hội, làng nghề, Đoàn thể, hiếu, hỉ và trong các buổi sinh hoạt hội họp ở các khối dân cư; – Cần có cơ chế ưu đãi, chính sách khen thưởng và chế độ bồi dưỡng nghệ nhân, cho người truyền dạy thích đáng;
– Duy trì việc phong tặng danh hiệu nghệ nhân để khích lệ, động viên tinh thần cho họ;
– Ngân sách cho hoạt động các câu lạc bộ dân ca Ví, Giặm phải trở thành một hạng mục trong kế hoạch chi ngân sách hàng năm;
– Hoạt động bảo tồn phải bằng hình thức phát huy hay còn gọi là bảo tồn sống. Có như thế thì loại hình di sản này mới được cọ xát, mài dũa và sẽ cho kết quả “ngọc càng mài càng sáng”;
* KẾT LUẬN
Dân ca xứ Nghệ là món ăn tinh thần từ bao đời nay của người dân Nghệ Tĩnh. Trong xã hội ngày nay, do chịu sự tác động của nhiều yếu tố lịch sử, xã hội và kinh tế thị trường, dân ca xứ Nghệ đang bị lãng quên và mai một dần, số nghệ nhân có khả năng truyền dạy cũng ngày một ít đi theo thời gian. Do vậy, dân ca xứ Nghệ đang đứng trước nhu cầu cấp thiết phải làm gì để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá nghệ thuật dân ca truyền thống, bảo vệ bản sắc riêng để không bị dị hóa trước các luồng văn hóa trong cơ chế thị trường. Để bảo tồn và phát huy vốn dân ca xứ Nghệ, bên cạnh hình thức sân khấu hoá dân ca, đưa dân ca vào trường học, dạy hát dân ca trên sóng phát thanh – truyền hình, công tác sưu tầm, nghiên cứu dân ca,… thì việc xây dựng, mở rộng mạng lưới câu lạc bộ dân ca trên địa bàn 2 tỉnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác này. Và xem đây là hướng đi chính cho hiện tại và tương lai.
Để công việc đó luôn được duy trì và làm tốt thì ngoài sự đam mê, nỗ lực, tâm huyết của các tầng lớp nghệ nhân dân ca, thì cần có sự chủ động sát sao, quản lý của các cấp ngành Văn hóa, sự quan tâm vào cuộc của chính quyền địa phương cũng như cần có các chế độ, chính sách hỗ trợ, động viên phù hợp cho nghệ nhân và những con người làm công tác này./.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bùi Quang Thanh, Báo cáo Tổng quan về kiểm kê khoa học dân ca Ví – Giặm Nghệ Tĩnh;
- Bùi Quang Thanh, Một số đặc trưng và giá trị dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, Tạp chí Thế giới di sản, số 8 – 2013;
3.Viện Văn hóa và Sở Văn hóa – Thông tin Nghệ An, 30 năm sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh, NXB Sân khấu, 2002;
- Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Nghệ An, Tuyển tập dân ca xứ Nghệ, NXB Nghệ An, 2012;
- Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Nghệ An, Bảo tồn và phát huy các giá trị dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ, NXB Nghệ An, 2012;
- 6. Ninh Viết Giao, Hát phường vải, Nxb Nghệ An, 1993;
- Thanh Lưu – Lê Hàm – Vi Phong, Âm nhạc dân gian xứ Nghệ, Nxb Âm nhạc, 1994.

