Lương Vân
Đồng bào Mông tập trung chủ yếu ở các đỉnh núi cao phía Tây Nghệ An và thường sống tách biệt với đồng bào các dân tộc khác. Người Mông rất coi trọng đời sống tâm linh, đặc biệt là các nghi lễ tang ma. Từ khi một người qua đời cho đến khi mãn tang phải trải qua nhiều nghi lễ với những quy định chặt chẽ và nghiêm ngặt. Trong toàn bộ hệ thống nghi lễ ấy, âm nhạc dân gian giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ tạo nên không gian nghi lễ trang nghiêm mà còn mang ý nghĩa sâu sắc trong đời sống tâm linh của cộng đồng.

Theo quan niệm của người Mông, con người có linh hồn và linh hồn vẫn tồn tại sau khi thân xác mất đi. Vì vậy, tang lễ được xem là quá trình giúp linh hồn người chết rời khỏi thế giới của người sống để trở về với tổ tiên. Nghi lễ cúng người đã khuất được thực hiện hai lần: cúng “ma tươi” (ngay sau khi người vừa qua đời) và cúng “ma khô” (sau 13 ngày). Sau khi cúng ma khô thì mọi thủ tục nghi lễ tâm linh liên quan đến người đó xem như hoàn thành. Do vậy, nghi lễ tang ma của người Mông được thực hiện rất bài bản và phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều người với những vai trò khác nhau. Ban tang lễ thường gồm: một ông thờ lử (cá xử) là người phụ trách quán xuyến mọi việc; một ông tờ kế (khua kề) chuyên hát các bài dẫn đường cho linh hồn; hai người thổi khèn (chí kềnh); một người đánh trống (chí đùa); và một người chí xái hát những bài ca cho gia đình tang chủ và khách đến viếng. Ngoài ra còn có những người lo hậu cần, hòm vỏ, củi nước. Hầu hết các bài dân ca nghi lễ và nhạc khí trong đám tang đều được người Mông lưu giữ rất bài bản. Mỗi nhạc cụ đều gắn với một chức năng cụ thể, không dùng tùy tiện. Người Mông thường nói rằng: trong đám tang có thể không giết trâu bò, nhưng nhất định phải có khèn và người hát Khua kê; trong mỗi dòng họ, có thể chưa kịp chuẩn bị quan tài cho người sắp qua đời nhưng vẫn phải có sẵn một chiếc trống để phòng khi có tang. Nếu trong đám tang chưa hát bài “tắt thở” thì coi như người đó vẫn chưa thực sự qua đời và người thân cũng chưa được khóc. Lúc chưa thổi bài khèn “sơ kế” thì cũng chưa thể tiến hành chôn cất. Điều này cho thấy rằng âm nhạc dân gian là thành tố không thể thiếu trong tang lễ của người Mông.

Phần lớn các bài hát và bài khèn trong tang lễ rất dài, có khi kéo dài hàng giờ. Mỗi nghi lễ đều gắn với một bài khèn hoặc một bài hát riêng. Ngay cả việc đón trống về nhà cũng có những thủ tục và lời ca nghi lễ riêng. Thậm chí, khi giết mổ các con vật để dâng cúng người đã khuất, người Mông cũng thổi khèn và hát những bài như “cho chìa”, “ùa chỉ cay” để kể về nguồn gốc của con vật, giới thiệu con vật do ai hiến tặng và bày tỏ tình cảm của người dâng lễ đối với người chết. Bởi vậy người Mông có câu nói dân gian phổ biến: “Ua no, ua hầu chau tau lau / kê lì, kê trày chau tri tâu”, nghĩa là làm ăn, làm uống thì có thể học theo người khác, nhưng còn việc cúng ma thì phải theo phong tục riêng của dân tộc mình.
Khi trong nhà có người qua đời, gia chủ sẽ báo tin cho bản làng bằng cách bắn ba phát súng và thổi tù và ba hồi. Sau đó gia đình tang chủ mời những thầy khèn có uy tín, am hiểu nghi lễ và thành thạo việc thổi khèn đến giúp. Trong một đám tang có thể mời hai hoặc bốn thầy khèn. Những nghệ nhân này vừa là người biểu diễn âm nhạc vừa giống như thầy cúng, thực hiện nhiều nghi thức thông qua tiếng khèn. Sở dĩ tiếng khèn được cất lên đầu tiên bởi khèn là nhạc cụ gắn bó sâu sắc đối với vòng đời con người từ lúc sinh ra, đến lúc trưởng thành họ vẫn thổi khèn cho đến lúc già và mất đi. Khèn như một thứ ngôn ngữ thứ hai của người Mông vậy. Chính vì thế, khèn giữ vai trò trung tâm trong toàn bộ nghi lễ tang ma.
Tùy theo từng thời điểm trong tang lễ mà các nghệ nhân sẽ thổi những bài khèn khác nhau. Họ có thể thổi theo từng mốc thời gian trong ngày như lúc ăn sáng, ăn trưa, ăn tối hoặc thổi liên tục suốt hai đến bốn ngày. Mỗi bài khèn thường kéo dài từ mười lăm đến ba mươi phút. Khi nghỉ ngơi hoặc khi có khách đến viếng, họ lại thổi những bài khác phù hợp với hoàn cảnh. Trong một đám tang truyền thống, nếu thực hiện đầy đủ nghi lễ thì phải thổi đủ các bài khèn chính như: Kềnh tu sía (Zaj qeej tu siav): Bài khèn tắt thở báo hiệu cho gia đình, bạn bè biết rằng người thân đã mất; Kềnh tsa nềnh (Zaj qeej tsa nees): Bài khèn đưa thi thể người mất lên cáng đặt giữa gian nhà; Kềnh ua chàu( Zaj qeej ua tsaug): Bài khèn cảm ơn; Kềnh cho chìa (Zaj qeej cob tsiaj): Bài dâng lễ vật cho người chết (1 con bò); Kềnh sài (Zaj qeej tshais): Bài khèn ăn sáng với ý nghĩa là mời linh hồn người mất lần cuối cùng được ăn sáng cùng gia đình để chuần bị lên đường về với tổ tiên; Kềnh su (Zaj qeej su): Bài khèn mời linh hồn ăn trưa; Kềnh hmò (Zaj qeej hmo): Bài khèn mời linh hồn ăn tối; Kềnh khua kê (Zaj qeej qhua ke): Bài khèn báo hiệu cho linh hồn chuẩn bị lên đường; Kềnh hlớ ntớ (Zaj qeej hlawv ntawv): Bài khèn đưa các loại tiền âm phủ cho người chết; Kềnh sớ kế (Zaj qeej sawv kev): Bài khèn đưa linh hồn lên chín cửa trời để về với tổ tiên. Các bài khèn được thổi trong đám tang là chỉ được sử dụng trong đám tang, không dùng để thổi trong cuộc sống hằng ngày.
Trước đây, trong các đám tang của người Mông, những đoàn khách đến viếng cũng thường có thầy khèn đi theo. Nếu người quá cố là cha, ông thì đoàn đến viếng là em gái của người đó dẫn đầu. Nếu người quá cố là mẹ, là chị thì dẫn đầu đoàn viếng là cậu. Lúc ấy, những người thổi khèn của tang chủ thay nhau thổi, trổ hết tài thổi khèn, múa khèn để đón khách. Còn phía khách cũng vì có thầy khèn (chí kềnh) của đoàn mình đi theo nên cũng góp phần chia sẻ với tang chủ, cũng muốn lấy khèn để thay lời chia buồn, thay lời tâm sự của mủa phồ (em gái), đa lầu (cậu) tới người quá cố. Trong trường hợp ấy sẽ diễn ra cuộc thi thổi khèn (xi sảnh kềnh) giữa các chí kềnh với nhau. Những động tác múa của thầy khèn trong đám ma là đi khom, xoay vòng xung quanh quan tài, vừa thổi khèn vừa đi. Thầy dùng khèn để lạy người chết. Thổi được 20 phút thì gia đình lại rót rượu mời thầy.
Khèn trong tang lễ của người Mông ở nghệ An thường không hòa tấu với các nhạc cụ khác mà chỉ hòa tấu với trống. Khèn thổi trước, trống đánh sau, tức là trống đi theo khèn. Điều này không giống với tang lễ của người Mông ở một số vùng phía Bắc, nơi khèn có thể hòa tấu với trống và chũm chọe, đồng thời trình tự diễn tấu cũng có sự khác biệt (trống đánh trước, khèn thổi sau, tức là khèn theo trống).
Bên cạnh khèn, trống cũng là nhạc cụ thiêng liêng trong đời sống văn hóa của người Mông và chỉ được sử dụng trong tang lễ. Mỗi làng thường có ít nhất một chiếc trống do một gia đình giữ và bảo quản trên gác nhà. Vì được coi là trống thiêng nên mọi người rất kiêng kỵ việc chạm vào làm trống phát ra tiếng. Trống được làm để sử dụng chung cho cộng đồng, không mua bán hay trao đổi. Quy trình làm trống của người Mông cũng rất đặc biệt. Trống thường được làm trong hang đá hoặc trên đồi xa để khi thử tiếng không vang tới làng. Sau khi hoàn thành, chủ trống cùng nam giới trong làng tiến hành nghi lễ cúng và treo trống tại hang đá. Khi đưa trống về nhà phải thực hiện nghi thức đón trống rất cầu kỳ như: đặt tên cho trống, giết lợn, dọn mâm mời trống, đồng thời hát những bài kể về quá trình làm trống, lý do đưa trống về nhà và những lời cầu mong để tang lễ diễn ra suôn sẻ như: Nịa gầu pà chí đầu đùa, no sò chù phỉ xò bùa, dua mù pó y xênh lệch pê xênh xứ vả lì đừ xừ xu đa, đồng lỳ xừ xu mú. (Nghĩa là: Trống mặc áo da bò, trống phải bảo vệ anh em họ hàng được sống tốt, con cháu sinh sôi nảy nở như tổ ong). Sau khi làm các thủ tục xong thì treo trống lên xà nhà để khi cần sẽ mang ra sử dụng.
Khi trong làng có người qua đời, gia đình tang chủ sẽ cử hai người đi mượn trống. (Sau này cũng chính là hai người này sẽ đi trả trống). Khi đến nhà chủ trống, họ rót rượu mời và trình bày sự việc. Chủ trống trực tiếp giao trống, khi giao, chủ trống bảo với trống: “Anh đi đưa bệnh tật đi, đưa mọi chuyện xấu đi. Anh về mang hồn hoa mầu về đầy nhà, mang hồn con người và gia súc. Anh về mang vàng bạc khắp nhà”. Trên đường mang trống về, người đi sau đánh ba tiếng trống để báo cho cả làng biết có người qua đời. Bắt đầu từ bài khèn “lên ngựa” trở đi, trống sẽ được đánh kèm với khèn. Trong đám tang, trống không đặt lên giá hoặc treo tùy tiện mà phải làm chỗ treo trống. Trống thiêng được sử dụng để báo hiệu các nghi thức khác nhau trong lễ tang, trống gắn liền với tín ngưỡng dân gian của người Mông và góp phần tạo nên không gian âm nhạc đặc biệt của tang lễ.
Bên cạnh hệ thống nhạc cụ như khèn và trống, tang lễ của người Mông còn có hệ thống dân ca nghi lễ giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Tiêu biểu trong đó là bài Khua kê (chỉ đường) và Dầu kê (dẫn đường) cho linh hồn người chết trở về với tổ tiên. Hát Khua kê là nghi thức quan trọng nhất và không thể thiếu trong đám tang. Khi có người tắt thở, gia đình sẽ mời một người am hiểu nghi lễ, thường là trưởng họ hoặc người lớn tuổi có uy tín trong dòng họ đến hát bài Khua kê (gọi là “dở mổ”: thầy cúng lễ chỉ đường). Nội dung của bài Khua kê rất dài (trường ca), có khi kéo dài hàng giờ. Lời ca thường kể về nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc con người, quá trình hình thành của tổ tiên người Mông và con đường trở về với cội nguồn. Qua lời hát, người dẫn lễ (dở mổ) như đang chỉ đường cho linh hồn người chết đi qua các ngọn núi, con suối và bản làng để trở về nơi tổ tiên sinh sống: “Mình chết thật hay mình chết giả. Mình chết giả mình dậy đi. Mình chết thật hay mình nằm đấy. Nằm quay đầu vào trong nhà…. Chết thật, ta rửa mặt cho mình. Rửa mặt ba lần đưa mình về với tổ tiên. Mình chết thật thì quay mặt lại. Lắng tai nghe dở mổ ta hát 36 bài. Chỉ đường, chỉ lối cho biết đường về cùng tổ tiên”. Khi hát Khua kê, dở mổ sẽ hát với giọng điệu trang trọng, tôn kính, uy nghiêm hơn là ủy mị, yếu đuối. Sau khi hát xong Khua kê, người thân trong gia đình mới được khóc thương người mất. Bởi theo quan niệm của người Mông, lúc đó linh hồn người chết mới thực sự rời khỏi thế giới của người sống để bước sang thế giới của tổ tiên. Vì vậy, Khua kê không chỉ là một làn điệu dân ca xót thương người mất mà còn là nghi thức tâm linh đánh dấu sự chuyển tiếp giữa hai thế giới. Nó giúp linh hồn tìm đúng đường, không còn luyến tiếc trần gian, đồng thời thể hiện triết lý nhân sinh về vòng đời con người.
Ngoài ra, trong đám tang của những người cao tuổi thuộc gia đình khá giả thường có nghi lễ trồng ntềnh. Nghi lễ này diễn ra vào ban đêm trước ngày chôn cất và kéo dài đến gần sáng. Trong nghi lễ này Chí xáy được hát suốt đêm như những lời tâm sự nỉ non để kể lại công đức của người đã khuất và nhắc nhở con cháu về nguồn gốc tổ tiên. Khi người hát cất lời, con cháu trong gia đình phải quỳ gối lắng nghe, hết mỗi đoạn lại cúi lạy để bày tỏ lòng thành kính. Nội dung của Chí xáy kể về cuộc đời của người đã mất, từ lúc sinh ra, trưởng thành, lập gia đình cho đến khi gây dựng cuộc sống cho con cháu. Qua đó, tang lễ không chỉ là dịp tiễn đưa người chết mà còn là cơ hội để truyền dạy đạo lý, củng cố các giá trị văn hóa và tinh thần của cộng đồng. Sau đây là bản ký âm một làn điệu Chí xáy của người Mông ở xã Tây Sơn thuộc huyện Kỳ Sơn cũ. Nay là xã Mường Xén, tỉnh Nghệ An:

Dịch nghĩa: Trước đây, chuyện buồn trong tang lễ chỉ diễn ra ở nhà người khác nhưng hôm nay chuyện buồn lại đến nhà chúng ta, tức là ông hoặc bà của mọi người không còn nữa. (Vừ Bá Mùa dịch).
Sau đám tang 13 ngày, người Mông tổ chức nghi lễ cúng ma khô để đón hồn người mất về thăm con cháu, anh em, họ hàng và nhận các vật cúng tế lần cuối cùng. Trong nghi lễ này, thầy khèn giữ vai trò chủ trì. Gia đình chuẩn bị mâm lễ để cầu linh vị của người mất. Thầy khèn vừa thổi khèn vừa đi vòng trong nhà rồi ra ngoài ngõ, dẫn đường cho linh hồn người chết trở về dự lễ. Sau đó linh vị được đưa vào trong nhà và gia đình, họ hàng tập trung bên mâm lễ để tưởng nhớ người đã khuất. Khi kết thúc nghi lễ này, linh hồn người chết được xem là đã trở về thế giới bên kia và sẽ không ai nhắc đến người đó nữa. Người Mông cũng không có phong tục làm đám giỗ, bốc mộ, sang tiểu như người Kinh, và họ cũng ít quan tâm đến việc chăm sóc phần mộ vì họ cho rằng linh hồn người chết đã về với tổ tiên, còn thân xác thì tan biến chẳng còn.
Ngày nay, lễ tang của người Mông về cơ bản vẫn giữ nguyên trình tự và thủ tục truyền thống, tuy nhiên thời gian tổ chức đã được rút ngắn và nhiều hủ tục dần được lược bỏ. Trước kia, lễ tang thường rất tốn kém vì việc ăn uống diễn ra nhiều ngày (ít nhất kéo dài 5 ngày, thậm chí có nơi đám tang kéo dài 7–8 ngày). Nhà có bao nhiêu con trai thì tang lễ kéo dài bấy nhiêu ngày và thường phải mổ chừng đó số trâu hoặc bò. Hiện nay, theo quy định của Nhà nước và nhờ công tác vận động, tuyên truyền thực hiện nếp sống mới, đám tang không kéo dài quá lâu, không tổ chức nhiều ngày và chi phí tốn kém, thường chỉ diễn ra trong khoảng hai ngày. Mặc dù vậy, những yếu tố cốt lõi như tiếng khèn, tiếng trống và các bài dân ca nghi lễ vẫn được cộng đồng gìn giữ như một phần không thể tách rời của đời sống văn hóa và tâm linh.

