Giá trị nghệ thuật độc đáo của các làn điệu cải biên.

Có người nói, âm nhạc dân tộc là "quốc hồn, quốc túy" của mỗi quốc gia. Phát huy những giá trị âm nhạc dân tộc đặc biệt là dân ca, dân vũ trong cuộc sống hiện đại là câu chuyện không còn xa lạ. Bởi kho tàng dân ca, dân nhạc mà chúng ta đang có là sự kết tinh của những “dòng sữa ngọt” được lưu truyền, bồi đắp qua nhiều thế hệ, là minh chứng sống động cho một nền văn hóa dân tộc đa dạng, giàu bản sắc và có lịch sử lâu đời.

Vốn dĩ, dân ca là những bài hát do nhân dân sáng tác, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác theo lối truyền khẩu, được hát theo phong tục tập quán từng địa phương, có nhiều dị bản mà không thuộc về riêng một tác giả nào. Dân ca Nghệ Tĩnh cũng không ngoại lệ, đó là sự “kết tinh khả năng sáng tạo lời ca và giai điệu” của các cộng đồng người Nghệ Tĩnh qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên kể từ những năm thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX đến nay, cùng với quá trình sân khấu hóa dân ca thì dân ca xứ Nghệ bắt đầu xuất hiện những làn điệu mới được cá nhân các nhạc sĩ, nghệ sĩ, diễn viên sáng tác, phát triển theo hướng chuyên nghiệp và không chuyên người ta gọi đó là làn điệu cải biên. Đây cũng là một quy luật tự nhiên bởi dân ca Ví Giặm làn điệu gốc mặc dầu rất giàu chất thơ, giàu tính biểu đạt, dễ đi vào lòng người nhưng qua thời gian thì càng hạn chế về số lượng bài bản và làn điệu, không đủ sức chuyển tải tâm trạng nhân vật. Trong khi đó, sân khấu kịch hát dân ca lại cần sự đa dạng tính chất để phù hợp với các tình tiết sân khấu. Do đó, làn điệu cải biên ra đời giúp thể hiện tốt hơn các loại tính cách nhân vật, các tình tiết với những mâu thuẫn đối kháng, tâm trạng gay cấn, giải quyết các tình huống kịch trong quá trình sân khấu hóa.

Một trong những phương thức phổ biến mà các tác giả thường sử dụng là mở rộng làn điệu dân ca. Tức là dân ca cải biên không sử dụng hoàn toàn chất liệu thang âm điệu thức của các làn điệu gốc mà thường có khuynh hướng mở rộng thang âm với thành phần âm phong phú hơn. Bên cạnh đó, ngoài khai thác, vận dụng chất liệu của Ví, Giặm, Hò thì còn có sự kết hợp, vay mượn chất liệu âm nhạc có nguồn gốc du nhập như Xẩm, Chèo, Ca Trù nhưng được Nghệ hóa trở thành tiết tấu của dân ca Nghệ Tĩnh.  

Dân ca cải biên đa số ra đời từ các vở kịch hát nên có những làn điệu mang đặc điểm hát nói, ý nghĩa lời ca phụ thuộc vào tình huống kịch và người nghe phải đặt vào tình huống, hoàn cảnh của vở kịch thì mới hiểu được nội dung của lời ca. Mặc dầu mang dấu ấn tác giả song qua thời gian cũng đã được dân gian hóa, sử dụng trong rất nhiều hoạt ca hoạt cảnh, các vở kịch ngắn, trong các chương trình văn nghệ quần chúng ở địa phương. Trong đó có nhiều bài có tính đa dùng, sử dụng được trong nhiều tình huống vở diễn khác nhau, một số bài còn được dân gian hóa và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong nhân dân như một làn điệu gốc. Trong số khoảng 200 làn điệu cải biên cơ bản thì các làn điệu “Giận mà thương”, “Hát Khuyên”, “Tứ Hoa”, “Con Cóc”, “Xẩm thương”, Đại Thạch”... cho đến nay vẫn được xem là những làn điệu cải biên thành công nhất, thường xuyên xuất hiện trong các vở kịch, các tổ khúc dân ca và được dùng phổ biến đến nỗi nhiều người cứ nghĩ đây là những sáng tác trong dân gian.

Nói về làn điệu thành công nhất có lẽ không thể không nhắc đến làn điệu “Giận mà thương” của nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong trong vở kịch dân ca ngắn “Khi ban đội đi vắng”. Đây là làn điệu có sức sống mãnh liệt, bền lâu và lan tỏa mạnh mẽ nhất trong những bài cải biên sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh từ trước đến nay, vượt qua không gian, thời gian, lan tỏa khắp mọi miền đất nước. Thậm chí có một giai đoạn nhiều người không biết và cũng không quan tâm tác giả của làn điệu này là ai vì cứ nghĩ đây là làn điệu gốc. Đến mãi sau này người ta sưu tầm, nghiên cứu mới biết được làn điệu “Giận mà thương” này là do nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong sáng tác. Phương thức ghép nối các làn điệu dân ca được tác giả sử dụng để tạo tính tương phản, đáp ứng được các tình huống căng thẳng, kịch tính của sân khấu.

Cánh cửa đối với các tình huống kịch cao trào tiếp tục được mở ra khi nhạc sĩ Đình Bảo cho ra đời làn điệu mới “Tứ Hoa”. Làn điệu này xuát phát từ vở kịch “Mai Thúc Loan” của nhà viết kịch Phan Lương Hảo được Đoàn Dân ca Nghệ An dàn dựng năm 1984 và NSUT Đình Bảo được giao chịu trách nhiệm phần âm nhạc cho vở kịch này. Sở dĩ gọi Tứ hoa bởi vì nó đã được sử dụng 4 làn điệu ghép vào nhau: Ví, Giặm, thơ Trung và Quân tử vu dịch trong Chèo, trong đó lối hát ngâm thơ miền Trung đổ dài được sử dụng làm chất liệu chính. Lối hát đổ dài này thể hiện hiệu quả tâm trạng buồn bã của nhân vật khi phải chia ly, cũng như khoảnh khắc mừng mừng tủi tủi trong ngày đoàn tụ của Mai Thúc Loan và cô Vải. Sau này, các soạn giả khi viết lời mới cho các vở kịch, các tổ khúc dân ca thường sử dụng điệu hát cải biên này như một thế mạnh chuyển tải tâm trạng, cảm xúc dồn nén của nhân vật trữ tình.

Sau Tứ Hoa thì một phát pháo vang dội khác cũng xuất hiện đó là làn điệu “Hát Khuyên” của nhạc sĩ Thanh Lưu. “Hát Khuyên” dựa trên chất liệu Giặm cửa quyền, mang màu sắc trung tính, lấy âm hình tiết tấu Giặm nhưng phá thể cả phần lời và nhạc, đồng thời đảo nhịp thứ 3 ở mỗi câu nhạc 4 nhịp làm cho âm hình uyển chuyển hơn. Làn điệu này chuyển tải tâm trạng cảm xúc trữ tình của nhân vật.

Cho đến nay, song song với các làn điệu gốc thì làn điệu cải biên đã đóng góp tích cực cho việc thể nghiệm và thể nghiệm thành công khá nhiều vở kịch hát dân ca. Không chỉ các vở diễn thành công trước đây như “Chuyện tình ông vua trẻ”, “Cô gái sông Lam”, “Vết chân tròn trong bão tố”... mà ngay cả những vở diễn gần đây nhất như “Thầy và trò”, “Sóng dậy một vùng quê”, “Vụ án Am bụt mọc” và “Người thi hành án tử” cũng đều sử dụng với tần số dày đặc các làn điệu dân ca cải biên. Như vậy từ sự đa dạng trong tiết tấu, phong phú, tinh tế trong cách trình diễn, dân ca Ví Giặm thực sự đã đáp ứng hơi thở của thời đại. Sự xuất hiện các làn điệu cải biên làm cho sức biểu cảm trên sân khấu sống động hơn, phong phú hơn, truyền cảm hơn.

Ở một phương diện khác, làn điệu cải biên là sáng tác chuyên nghiệp và không chuyên của các nhạc sĩ, nghệ sĩ, diễn viên, nhưng rồi đến lượt nó lại chính là nguồn cảm hứng để các nhạc sĩ lấy đó làm chất liệu để sáng tác các ca khúc mang âm hưởng dân ca. Ví dụ làn điệu “Giận mà thương” của nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong đã trở thành chất liệu cho nhiều nhạc sĩ sáng tác các ca khúc nổi tiếng về Bác Hồ như “Trông cây lại nhớ đến Người” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, tạo cảm hứng cho ca khúc cùng tên của nhạc sĩ Trần Hoàn “Anh xa em nghe câu dân ca, Giận mà thương sao mà da diết thế”... Có điều khác nhau đó là làn điệu cải biên có cấu trúc, khúc thức theo kiểu dân gian, thiên về âm hưởng giai điệu, có nội dung biểu cảm phong phú, mỗi một điệu thức đều chứa đựng một thang âm của riêng nó mà vẫn mang đậm bản sắc của xứ Nghệ, và quan trọng nó vẫn giữ được tính chất của thể loại dân ca. Còn ca khúc mang âm hưởng dân ca là bài hát thiên về tiết tấu, hòa thanh, tính năng nhạc cụ, các thủ pháp sáng tác mới để thể hiện nội dung nghệ thuật của tác phẩm. Hầu hết các nhạc sĩ sáng tác ca khúc ở thể loại này thường vận dụng những bài hát mà giai điệu, nội dung hay lời ca đều có tiếp thu một số yếu tố của Ví, Giặm, và sáng tạo thêm nhiều thủ pháp mới để đem đến cho người nghe một tác phẩm âm nhạc hoàn chỉnh, đậm chất dân gian của xứ Nghệ.

Làn điệu cải biên cùng với các làn điệu gốc đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng dân ca Nghệ Tĩnh, trở thành nguồn chất liệu dồi dào để các nhạc sĩ, nghệ sĩ khai thác đưa vào các vở kịch hát dân ca cũng như trong những sáng tác mới ở thể loại thanh nhạc và khí nhạc, nhằm tránh khai thác một cách “cạn kiệt” làn điệu. Để tiếp tục cho ra đời những tác phẩm giá trị, con đường trước mắt đòi hỏi nhiều tâm huyết của các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhạc sĩ khai thác và phát triển để nó phong phú hơn, đa dạng hơn, cho dù là làn điệu dân ca cải biên hay ca khúc mang âm hưởng dân ca cũng đều rất cần thiết.

 TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

Giá trị nghệ thuật độc đáo của các làn điệu cải biên.

Có người nói, âm nhạc dân tộc là "quốc hồn, quốc túy" của mỗi quốc gia. Phát huy những giá trị âm nhạc dân tộc đặc biệt là dân ca, dân vũ trong cuộc sống hiện đại là câu chuyện không còn xa lạ. Bởi kho tàng dân ca, dân nhạc mà chúng ta đang có là sự kết tinh của những “dòng sữa ngọt” được lưu truyền, bồi đắp qua nhiều thế hệ, là minh chứng sống động cho một nền văn hóa dân tộc đa dạng, giàu bản sắc và có lịch sử lâu đời.